Thursday, November 10, 2011

PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG ◙ NHƯ VÌ SAO LẠC

@ Trương Thị Thịn


bài thủ vĩ ngâm cho Trương Thị Thịnh & Hồ Thành Đức
1-
như một vì sao lạc giữa sơn khê
nhìn trần thế âm u màu chướng khí
người rũ áo -

xoa hành tinh, ứa lệ
gọi hồn thiêng sông núi đến tự tình
đem hạt nhân hòa, nhân ái kết tinh
âm thầm cấy dưới đồng ngô ruộng lúa



2-

trải thương yêu ngọt ngào trên đất khổ
tô màu xanh cho biển rộng xanh thêm
điểm son hồng trên môi má nhung êm
pha hương thắm cho đời thôi u uất


3-
người quỳ đó -
 cô đơn và trầm mật
 viết tâm kinh mà tâm thức hắt hiu
 tay khẳng khiu hứng từng giọt nắng chiều

phủ trên mộ, trên rừng hoang cô lạnh
có phải người hóa thân làm ánh sáng
soi rọi tự thân –
 soi chiếu đêm mê
 như một vì sao lạc giữa sơn khê


@ Hồ Thành Đức

LIKE AN ERRANT FALLING STAR
an interrupted song for Trương Thị Thịnh 'n Hồ Thành Đức

1-

like an errant falling star in the murky mountains 'n streams
watching the gloomy earth covered by misty diffuse beams
you cast the shirt off,
soften the planet with tears flowing
then call upon eternity-soul of the mountains ‘n rivers for a love sharing
you – who uses the grains of crystallized altruism, benevolence will

to silently cultivate in the rice beds ‘n cornfield.


2-
distributing your warm sweet love on endlessly miserable earth moved
using the blue to paint the immense sea color into the extreme blue
applying rouge on tender silky lips ‘n rosy cheeks
then adorning perfume, bright powder to eliminate the life melancholics.


3-
you’ve lonely knelt down there,
in the solitary meditating mood
by the sorrowful conception writing your mindful canonical book
used your skinny hands to catch drop by drop of diminishing ray of sunset
spread them silently all over chilling tombs ‘n deserted forest.
are you metamorphosed into inspired lights
to examine yourself, to illuminate one’s delirious nights.
like an errant falling star in the murky mountains ‘n streams

PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG [English version]

Wednesday, November 9, 2011

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN ** Viết Về Hoàng Hải Thủy


Hoàng Hải Thủy là một trong những nhà văn đã nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông nổi tiếng trước nhất như một người viết phóng sự, sau đó, như một dịch giả và một người viết tạp văn.
Từ tạp văn ở đây hiểu theo nghĩa, gặp gì viết nấy, trộn lộn cả phóng sự, văn chương, trích dẫn thi ca, âm nhạc, những ngôn ngữ do ông sáng tạo, bịa đặt ra.
Cái cách viết của ông có thể có nhiều người không thích. Nhưng khi người ta nói không thích cách đùa cợt trớt nhả của ông, có nghĩa là người ta đã đọc ông rồi.
Có phải như vậy chăng?

PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG ** Liên Khúc Vô Thường


1.
ném công án vất kinh thư khải ngộ
theo đường trăng -
trăng khi tỏ khi lu
tìm người hiền nơi thâm cốc âm u
thõng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ

giòng sinh mệnh
chừng nhuộm màu chướng khí
bến nhân gian ai quán niệm vô thường
hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương
                         trên vách núi chân dung in mờ tỏ

PHAN BÁ THỤY DƯƠNG ** Hoàng Trúc Ly [1933-1983] : Hành Trình & Thi Ca Tịch Liêu Của Một Thiên Tài Vắn Số.



Nhiều người chỉ biết Hoàng Trúc Ly qua những bài thơ đăng trên các báo, các tạp chí từ 1955 và về sau là thi tập duy nhất của anh: “Trong Cơn Yêu Dấu”. Tác phẩm thi ca này do nhà xuất bản Hướng Dương trên đương Lê Lợi ấn hành năm 1963, bìa của họa sĩ Trịnh Cung. Cuốn sách này còn khiêm nhường hơn nhiều so với số trang trong tập thơ “Bi Ca” của Hoài Thương - người phụ trách trang thơ và biên tập viên thường trực cho bán nguyệt san Thời Nay, phát hành vào cuối năm 1962. TCYD chỉ vỏn vẹn có 38 trang với 22 bài thơ in trên khổ giấy lớn 21x25.

Tuesday, November 8, 2011

NGUYỄN MẠNH TRINH ◙ Ðọc Thơ Hải Phương.


@ bút pháp Hải Phương

Có một người làm thơ đã viết một vài câu thơ tình cờ để tặng một tập thơ đọc cũng rất tình cờ của một nhà thơ mà cuộc gặp gỡ cũng thật.. tình cờ vô định trong cõi đời này:

ghé chơi qua chốn mịt mù
thấy ngôn ngữ quạnh thiên thu ngỡ gần
một bước chân thấy phân vân
thấy trang sách triết tần ngần cõi xa

hai chân bước chợt nhạt nhòa
vần trên câu sáu nở hoa nụ đầu
vế sau câu tám ở đâu
lạc vào cõi sắc mấy mầu tịnh không

soi gương râu tóc bềnh bồng
hỏi chàng thi sĩ có trong mộng hờ?
câu vấn câu đáp lửng lơ
thấy trường giang cuộn mấy bờ dương gian”

Ðọc thơ Hải Phương, thấy ngôn ngữ thơ như vờn quanh chúng ta một điệu khiêu vũ mà thân thể dường bất động đứng yên một chỗ. Sao lại đứng yên mà khiêu vũ được ? Bởi vì, trong tâm tư , hình như cái có và cái không trộn lẫn, chân đi mà tưởng như đứng, óc nghĩ mà tưởng như không mảy may suy tư và cảm giác là những nỗi bâng khuâng của mê hoặc bất định. Tôi đã nghĩ như thế và chợt giật mình, tự hỏị Tôi đọc thơ theo kiểu nàỏ Phạm Công Thiện hay Bùi Giáng..? Và tôi có giả vờ làm người khách lạ đi tìm thi tứ…

Không, tôi đọc theo kiểu của tôi, không làm cho khác đời và cũng chẳng cầu kỳ bí hiểm. Thấy gì nói nấy, cảm gì bộc lộ nấỵ Ở thơ Hải Phương, tôi thấy thơ có lúc bàng bạc phân cách giữa chữ và nghĩạ Nhưng, ở phần cảm xúc là những bước chân kéo đi xa, thật xa đến mịt mù. Mỗi một thi sĩ có phương cách diễn tả riêng. Cái riêng ấy lột tả cái phong thái để thành một căn cước cho thi sĩ. Ðọc câu thơ đầu, đã có cảm giác của một danh tánh, đọc câu thơ thứ hai đã thấy một chân dung. Ở Hải Phương, là ngôn ngữ cũ nhưng hình tượng mới, là ngôn ngữ có phấn son nhưng trang điểm nhẹ nhàng. Thơ là những nét vờn của cuộc sống, của những cảm giác thoảng qua trong những giây phút tình cờ tìm kiếm được những mơ mộng đã từ lâu tích chứạ

Như bài thơ” Chân dung mùa xuân và biển”.

Tóc xao vừa độ nắng hong
gió hiu hiu đủ phiêu bồng mái hiên
liềm trăng lục bát nghe thèm
trầm hương cỏ mượt môi em dậy thì

nét mày vẽ một đường thi
tuyệt chiêu em nước cờ đi qua thành
mềm môi cắn một lằn ranh
nụ hôn vỡ vụn tan nhanh miếng sầu

thắp lòng tĩnh lặng trước sau
đường cong biển dội trộn màu chân dung
bỗng dưng lại bỗng không dưng
bỗng dưng bỗng nữa lưng chừng nhớ em

mở trang vô tự ra xem
thấy trong lá biếc biển đêm dịu dàng “

Ðọc xong những câu lục bát trên, có người hỏi tôị Thơ nói gì vậỷ Tôi ngớ ra và chỉ biết nói thơ không bao giờ giải nghĩa được. Tôi chỉ yêu thơ, khoái thơ nhưng bình thơ thì đành chịụ Bởi vì tôi thấy bất lực để dùng ngôn ngữ là một thứ hữu hình để phác họa cái cảm giác là một loại vô hình và ai hiểu sao thì hiểụ Thế thì, cảm giác của tôi khi đọc những câu thơ trên ra saỏ Chỉ là những liên tưởng nối tiếp nhau, từ một hình dáng người nữ, có nét thực mà cũng có nét ảo, gợi lại một không gian nào kỳ bí và một thời gian nào có thể gần mà có thể là vạn dặm để trong bỗng dưng nỗi nhớ thấy từng trang vô tự của lá biếc biển đêm. Ðó là cảm nhận của riêng tôi, mà người khác có thể không cảm nhận rạ Những câu thơ , tả người nhưng để phác họa tình cảm, để trong những đường nét như có như không ấy, ngầm chứa một thế giới riêng của những nỗi niềm yêu thương bàng bạc. Và, trong một sát na ” bỗng dưng lại bỗng không dưng/ bỗng dưng bỗng nữa lưng chừng nhớ em/mở trang vô tự ra xem/thấy trong lá biếc biển đêm dịu dàng”. Dù là trang vô tự, vẫn thấy biển dịu dàng của bóng đêm…

@ Hải Phương

Hải Phương thường viết về biển. Ở biển, có cuồng cạ Ở biển, có tháng giêng xanh tình cỏ biếc. Ở biển, có nghe vời vợi vỗ khuyạ. Tiếng em vọng âm rền tiền thân. Những bài lục bát liên tiếp nhau, để biển cả thăm thẳm nỗi niềm, để trùng dương cứ thầm thì một điệu ngữ ngôn của thuở nào đất trời còn hoang sơ của cuộc nhân sinh còn nhiều gót chân đi lạc.


Thơ Hải Phương từ : ”mùa xuân em biển hư vô/ triều con sóng vỗ bờ xô cát bày” của “Cuồng ca biển và em” đến: ” Biển buồn trời cũng mây bay/ cơn mưa tinh thể đất say điệu mình/ đất trời cứ mãi làm thinh/ mà sao cỏ biếc xanh tình tháng giêng” của “ Mà sao cỏ biếc xanh tình tháng giêng” rồi: ”Mầu trăng động vỡ càn khôn/ môi em động vỡ nụ hôn dậy thì/ thiên thu động vỡ có khi/ tóc em gió rối chân đi lạc lìa/ nghe vời vợi biển vỗ khuya/ hồn ta động vỡ cồn chia bãi bày” rồi: ” qua đây thấy lạ con đường/ hai vai quẩy gánh vô thường mộ xưa/ mùi trăng đọng vũng cơn mê/ bước chia cố xứ nẻo về mình ên/ tiếng khô đá nẻ nhẹ tênh/ tiếng em biển vọng âm rền tiền thân”. Rồi: ” Bỏ ta ơi bỏ người ta/ bỏ mây tứ xứ em tà áo bay/ bỏ hôm trước bỏ ngày bay/ rừng phơi lá nỏn biển bày biện em”.

Những câu thơ mở ra những hình ảnh. Ý và tình, tình và ý, chen lẫn nhau để gián tiếp nói với ngôn ngữ của những sợi đàn cảm xúc, vẳng lên nhẹ nhàng và như chứa chan ở trong những dung lượng vô bờ của nỗi niềm dàn trảị Biển có nói gì đâu/ ngoài điệu sóng ru, ngoài màu xanh thăm thẳm của chiều sâu tận cùng chẳng bao giờ đụng đáy…

Có người nói thơ sao mơ hồ và đầy những ngôn ngữ ít có âm hưởng đời thường trong thi phẩm Hải Phương. Có thể đó là một lời phê phán với người này nhưng lại là biểu tỏ khen ngợi với người kiạ Ở trong những từ có thể gọi là sáo ngữ ấy trong cảm nhận này lại là những vọng âm mở ra những mảnh trời u hiển với tâm thức kiạ Riêng với tôi, tôi cảm nhận được trong sự mơ hồ một đời sống nào gần cận lắm, lãng mạn và đầy thiết tha của những trái tim dòn dã nhịp đập thương yêụ Chẳng sao , nếu có ai tô son điểm phấn cho ngôn ngữ. Chỉ xin một điều, có cảm nghĩ thực của cuộc sống thực chứ chẳng phải là một màn kịch mà người thủ vai cứ hững hờ trong lớp áo vô hồn…

Thơ lục bát, đã có một quá trình sáng tạo từ bao nhiêu thế kỷ, đã qua những khuôn khổ như một gắn bó vô hình làm thành những cõi thơ khuôn mẫụ Rất khó cho những dụng công đổi khác. Câu sáu câu tám, mở ra và khép lạị Câu tám câu sáu, khép lại và mở rạ Thi sĩ, như người chọn lựa một cuộc thách thức. Làm sao để tạo cho riêng mình một vóc dáng. Không phải của Nguyễn Du nàng Kiều, không phải của Tú Xương “ Sông lấp”. Mà cũng không phải Cung Trầm Tưởng, Trần Ðức Uyển, Hoài Khanh ,.. thuở nàọ Mà phải riêng vóc dáng Hải Phương. Trong cố công ấy, tôi đã thấy trong ngôn ngữ và vần điệụ Những chủ ý để bắt người đọc chia sẻ với người làm thơ những tâm tình, có thể là chung của những người đam mê và nhiều mộng ước. Thơ như những ngọn củi, nhen vào bếp lửa nhân sinh để trong hơi ủ cuộc đời chia với nhau niềm thiết tha nồng ấm…

Người thơ nói với người thơ? Có phải là những chung mang của nghiệp duyên phải gánh. Ðọc thơ bạn, để thấy gần gũi hơn những câu lục bát, để thấy không gian gần lại một vòng taỵ Hải Phương đọc thơ Hoàng Xuân Sơn:

Ðất buồn đất hỏi han cùng.
Trời buồn trời lại bão bùng hao hư

Ðọc câu lục bát tàn dư
Ðêm qua mắt ngủ còn như ngó ngày

Phiên đời vụn nhỏ lòng tay
Trái tim âm bản vàng bày lửa nung

Ðất trời lục địa nhớ nhung
Con chim nhỏ hát tiếng khùng điên rong

Vì em bữa trước ra bông
Bữa nay ra nụ phiêu bồng tiền thân.”

Trời buồn đất buồn nên câu lục bát cũng tạo thành đêm mất ngủ. Vì saỏ. Bởi vì: ” vì em bữa trước ra bông/ bữa nay ra nụ phiêu bồng tiền thân”. Câu trả lời đơn giản mà phức tạp, tưởng lời cạn mà ý sâụ. Thơ mở ra những liên tưởng nhưng cũng đóng lại những luận cứ. Thơ như bơi trong dòng nhân sinh mà tưởng như chân dẫm trên bờ cạn rong chơi.( Không hiểu thi sĩ có chủ ý diễn tả như thế không? Tôi không rõ. Nhưng là người đọc tôi đã cảm thấy như vậy)

Hải Phương làm thơ cho những người bạn Phan Thiết, những người đã sinh ra ở bên sông Cà Ty, núi Cú và Tà Dôn. Thơ gửi Hoài Khanh:

ngày về mở cửa phù vân
cài then thiên cổ mưa gần nắng xa

bút hoa hứng trận phong ba
miếng môi ngậm cứng vành tà huy không

mở trang vô tự phiêu bồng
mái hiên ngôn ngữ mái lòng thênh thang”

@ Hải Phương
Thơ gửi Ðài Nguyên Vu:

người về cỏ rối dưới chân
chén thinh không cạn bước ngần ngại qua

sông Cà Ty trận mưa và
phố lầu Phan Rí rộng tà áo bay

thiền sư thả con diều mây
tràng kinh niệm đến đoạn này đứt giây”

và thơ gửi Từ Thế Mộng;

biển xưa sóng vỗ cồn bày
bến bên kia bãi bên này rộng rinh

biết đâu ruợu uống một mình
môi cay nhín gởi ngọn tình ra roi

mở trang vô tự ra coi
môi khuya thắp ngọn lửa cời bếp xanh.”

 
Dù thơ viết cho mình hay gửi cho người, Hải Phương vẫn là một người tự may cho mình một tà áo thơ để khoác lên tâm tư những nỗi niềm dàn trải từ cuộc sống. Tôi đọc thơ ông, như những bước chân đi tìm lại những bóng nắng rơi xưa cũ, những tâm tình của một thuở nào tưởng đã quên mà gợi nhớ đến lạ lùng. Nếu có ai thấy tôi viết như trong cơn đồng thiếp thì cũng bỏ qua cho, bởi khi đọc thơ có khi mình đã quên lãng cả chính mình, thân phận mình. Ðọc thơ Hải Phương, là để du hành vào một cuộc lữ mà hai chữ có không, cũng như mê và tỉnh chỉ là những ý niệm mơ hồ của ngữ ngôn phù ảo…

Nguyễn Mạnh Trinh
* búp pháp, tranh minh họa: hải phương

PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG ** Thy An Nguyễn Thế Tài: 40 năm làm thơ trữ tình, yêu Đời và yêu Người


tập thơ THY AN

Thy An tên thật là Nguyễn Thế Tài, sinh năm 1952. Anh xuất thân trường Pháp tại Việt Nam, tốt nghiệp ngành khoa học tại Âu châu và hiện cư ngụ tại Bỉ quốc. Thy An cho biết anh rất yêu thích thi ca và văn chương Việt Nam ngay từ khi còn bé.

Học sinh, sinh viên miền Nam VN, nhất là người theo học chương trình Pháp như Nguyễn Thế Tài hay chọn ngành chuyên biệt Pháp ngữ trên các phân khoa đại học. 

Monday, November 7, 2011

VÕ THỊ ĐIỀM ĐẠM ** Dấn Thân Vào Miền Tuyết Lạnh



Cõi trần thế lỡ đam mê sa đọa
Mãi rong chơi ta lạc lối quay về
Phan Bá Thụy Dương
 


    Cái mốt từ hàng trăm năm của người Na Uy vào dịp lễ Phục Sinh là lên nghỉ mát ở miền núi, ở khách sạn, thuê nhà nghỉ mát hay gia đình có nhà nghỉ mát riêng. Nghĩ tới chuyện có nhà nghỉ mát riêng, Thanh cứ cười hoài về cái tội "dại khờ" của ngưới Na Uy, trong đó có chồng mình. Ông bà nội, Thanh quen gọi ba mẹ chồng là ông bà nội, vì ngược ý nhau về chuyện tậu nhà nghỉ mát nên không tát được biển Đông. Cậu con trai duy nhất của ông bà lãnh trách nhiệm làm tròn ước mơ lớn nhất đời người của ba mẹ cũng như đa số người Na Uy. May mắn cho cậu quí tử này là cô vợ chẳng quan tâm gì đến cái chuyện sẽ tậu nhà nghỉ mát ở miền biển, miền suối, cạnh sông hồ hay miền núi cao. Cô nàng càng không có cơ hội dành tới dành lui với chồng để cất nhà nghỉ mát gần quê quán mình như ông nội bà nội của lủ con. Bởi một lẽ đương nhiên là quê cô nàng ở tận Việt Nam, chứ không phải cô nàng hiền lành lắm đâu mà khen là: Đi đâu cho thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp theo.