Showing posts with label Nhận định. Show all posts
Showing posts with label Nhận định. Show all posts

Friday, April 13, 2018

TÔ THUỲ YÊN ** Tâm Thức Khuất Dạng Của Thơ


1.
Năm đó, giặc Trung Quốc bất thần mở mặt trận ồ ạt tấn công vào 8 tỉnh miền Bắc nước ta. Nửa khuya, Công an Cộng sản Việt Nam lùa tất cả những người tù đày của chế độ miền Nam từ những vùng thượng du và trung du lên những chiếc xe đò khẩn cấp trưng dụng, chạy bán mạng về vùng Thanh Nghệ Tỉnh, tức Liên Khu Tư cũ, đất ẩn trú một thời của những Nguyễn Đức Quỳnh, Đào Duy Anh, Hữu Loan, Phạm Duy và ban hợp ca Thăng Long, của những ngày toàn dân kháng chiến chống Pháp cũ. Tại một trại giam ở Nghệ Tĩnh, ẩn khuất trong Trường Sơn, tôi gặp lại người bạn vong niên là nhà thơ lão thành Hà Thượng Nhân, giữa đông đảo những bằng hữu thất tán khác. Trong một lần trò chuyện, nhà thơ Hà Thượng Nhân ngỏ ý khát khao được đọc thơ. Tôi hoàn toàn thông hiểu nỗi khát khao đó của Hà tiền bối.

Saturday, April 7, 2018

TẠ TỴ ** Đinh Hùng với cơn mê trường dạ


Đinh Hùng: Làm thơ, viết văn. Sinh ngày: 3-7-1920 tại Hà Đông. Mất ngày: 24-8-1967 tại Sài Gòn.
Tác phẩm: Mê hồn ca, thơ (Tiếng Phương Đông xuất bản, 1954, Hà Nội), Đường vào tình sử, thơ (Nam Chi, Sài Gòn, 1961), Ngày đó có em, thuật ký (Giao Điểm 1967)

Đinh Hùng – Với cơn mê trường dạ
Ta suốt đời ngư phủ
Thả con thuyền trên mái tóc em buồn lênh đênh. (Đinh Hùng)

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM ** Phan Bá Thụy Dương : đại thiên sa giới ngoại/ hà xứ bất vi gia

chụp bởi T.H - Viễn Đông News


Hai câu kệ của tổ sư Thường Chiếu đời nhà Lý ở trên, được nhà thơ Phan Bá Thụy Dương chuyển ý “ ngoài cõi trời bao la vô tận đó/ có nơi đâu chẳng thể gọi là nhà”. Cái khuynh khoái của người nghệ sĩ chất nhẹ trên đôi vai gánh tang bồng, thì thế sự chất chồng chung quanh nẻo sống chỉ là những cát bụi phù du. Bước đạt ngộ của kẻ làm văn nghệ hình như cũng tương đồng với thậm thâm vi diệu pháp của người tu chứng. Quẫy trên lưng cả một vũ trụ nghiệp chướng dầy đặt những hạnh phúc hay khổ đau, như quẫy nhẹ cả hư không trong lòng người đạt ngộ.

Friday, April 6, 2018

ĐẶNG TIẾN ** Thi Giới Đinh Hùng


Image result for ảnh Đinh Hùng
      
  ĐINH HÙNG sinh ngày 3 tháng 7 năm 1920 tại làng Trung Phụng, ngoại vi thành Hà Nội (chánh quán làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông), Bắc Việt.

Thuở nhỏ, học trường Sinh Từ. Đậu tú tài khi học xong trường Bưởi, Hà Nội.

Tham gia sinh hoạt văn nghệ từ rất sớm, từ trước 1945, nhưng chỉ chính thức sống bằng nghề văn báo ít lâu trước khi di cư vô Nam (1952-54). Tại Sài Gòn, ông viết truyện dài dã sử (ký Hoài Điệp, Thứ Lang), làm thơ trào phúng (ký Thần Đăng), vẽ tranh, soạn kịch thơ và phụ trách mục thi ca Tao Đàn trên các luồng sóng phát thanh. Năm 1962, ông được trao tặng giải thưởng Văn chương Toàn quốc (về Thơ).

Tuesday, February 21, 2012

TRẦN VĂN NAM * Thơ hai bên nói về cuộc tranh thủ Tây Nguyên


I./ Thơ Cao Hoành Nhân phía Việt Nam Cộng Hòa viết về trận Ashau


Thời Việt Nam Cộng Hòa, thơ cảm hứng về mặt trận Tây Nguyên không hiếm hoi, nhưng đa số đều mang chất biên tái: nhớ nhà, nhớ vợ con, hoặc một chút buồn cô đơn khi trấn thủ chốn biên thùy, hoặc đôi khi một chút ngao ngán chiến tranh. Thi nhân không phải như những nhà chiến lược để biết Tây Nguyên là bàn đạp tiến xuống đồng bằng, là xương sống vòng cung tỏa về duyên hải.

Friday, December 23, 2011

NGUYÊN GIÁC PTH * Những Lòi Dạy Từ Các Thiền Sư VN Xưa * Bài 4



5- Taming the mind

Outwardly, stop all involvement; inwardly, stop all fabrication.
Be alert -- have a mind unmoved by the form you see, by the sound you hear, by the odor you smell, by the flavor you taste.
…
Constantly, watch the ox moving, listen to its hoofbeats.
Constantly, in any movement, never keep your eyes away from the ox.
Constantly, keep your mind on the ox while lying, sitting, standing and walking.
Constantly, keep watching inwardly.
It’s wrong to let it wander wildly.
QUANG TRI (circa 18th century)

Wednesday, December 14, 2011

NGUYÊN GIÁC PTH * Những Lời Dạy Từ Các Thiền Sư VN Xưa – Bài 3



3 - Thở

Hơi thở ra, hơi thở vào tự hiểu,
hơi thở ra, hơi thở vào tự biết.
Đương lúc ấy là hiểu, về sau là biết.
Hiểu là hiểu hơi thở dài ngắn.
Biết là biết hơi thở sinh diệt thô tế chậm nhanh.

Monday, December 5, 2011

PHAN HUY ĐƯỜNG * Thời gian người trong tiểu thuyết


Lâu rồi tôi lại được đọc một tiểu thuyết đáng mê từ Việt Nam.

Những ngã tư và những cột đèn. Trần Dần. Xuất bản năm 2011, theo bản thảo hoàn tất năm 1965-1966, và bản chép lại có sửa đổi năm 1989 của tác giả.

Nội dung "cụ thể" ? Tâm trạng của một con người đang bị quyền lực toàn trị vây hãm, nghiền nát.

NGUYÊN GIÁC PTH * Những Lòi Dạy Từ Các Thiền Sư VN Xưa * Bài 2

2- Học Đạo

Các ngươi! Tất cả các người học đạo lấy tâm siêng năng cúng dường Phật, không gì khác hơn chỉ cầu dứt được các nghiệp ác.

Tâm miệng niệm tụng, tin hiểu nghe nhận,
ở chỗ vắng vẻ yên lặng, gần thiện tri thức.
Nói ra lời hòa nhã, nói phải thời đúng lúc, trong tâm không khiếp nhược.
Liễu đạt nghĩa lý, xa lìa ngu mê, an trụ chỗ bất động.
Quán tất cả pháp vô thường, vô ngã, vô tác, vô vi.
Nơi nơi lìa phân biệt, ấy là người học đạo…

Friday, December 2, 2011

NGUYÊN GÍAC Phan Tấn Hải * Những Lời Dạy Từ Các Thiền Sư VN Xưa * Bài 1


Lời Giới Thiệu

Suốt hai ngàn năm lịch sử truyền thừa, trải bao thế hệ lịch đại tổ sư và chư vị cao tăng thạc đức, Phật Giáo Việt Nam có được kho tàng pháp bảo quý giá với hàng trăm bài pháp khai đạo, khuyến tu qua các thể loại thơ, văn, kệ, tán, vừa cao sâu vi diệu, vừa hữu ích thiết thực cho con đường tu tập và chứng đắc của những hành giả thực hiện giác ngộ và giải thoát.

Monday, November 21, 2011

TUỆ SỸ * Thuyền Ngược Bến Không

Tuệ Sỹ

Dưới hiên mưa vắng hồn khua nước
Thả chiếc thuyền con ngược bến không
(Thơ Viên Linh, Thủy mộ quan)

Tôi sinh ra thì thế chiến II đang hồi kết thúc. Lớn lên chút nữa, khi biết nghe và hiểu, những chuyện vãn người lớn về việc đánh nhau đâu đó, lúc nào đó, bao giờ cũng hấp dẫn như chuyện cổ tích. Mà hình như đó lại là những chuyện mà tuổi con nít của tôi được nghe nhiều hơn là chuyện cổ tích. Trong gia đình tôi, thỉnh thoảng thấy vắng đi một người lớn. Rồi lại nghe những câu chuyện thì thầm. Mấy chú, mấy anh lớn, đã từng ẳm bồng tôi, bỗng chốc họ trở thành nhân vật trong truyện cổ tích. Cách mà người lớn kể chuyện, lại làm cho không khí của chuyện cổ tích ấy càng trở thành huyền bí.

Cho đến khi lai rai đọc được tiếng nước ngoài, chuyện kể về chiến tranh bỗng thành hoài niệm; hay chỉ hình như là hoài niệm thôi, vì đấy là quá khứ mà mình không thấy, không nghe. Có điều, hoài niệm ấy không làm sao mờ đi được. Vì nó đã trộn lẫn quá khứ với hiện tại. Quá khứ ấy, khi chợt biết, nó đã có quá nhiều mất mát. Vì những người đã đi, chưa thấy ai trở lại. Rồi cả những người cùng trang lứa cũng lần lượt ra đi. Mình thì may mắn được ở lại. Nhìn quanh, bảng đen, lớp học, sân trường. Sự sống vẫn băng băng lôi người đi tới, với những cạnh tranh vất vả.

Chiến tranh, thù hận, và đâu đó, từ sâu thẳm của khát khao, tình yêu và sự chết là nỗi ám ảnh, và như chất liệu cho ý thức sinh tồn. Có một cõi thi ca riêng biệt như vậy. Dành cho những tâm hồn nhạy cảm. Nhìn con chim giãy chết trong tranh mà ngơ ngẩn, bàng hoàng. Nhưng ngôn ngữ của nó cũng biến hình. Tình yêu, thất vọng, đam mê, như những con sóng nồng nhiệt trên mặt nước, mà dưới đáy sâu ai biết ẩn chứa những gì.

Nước xa cuồn cuộn ra khơi
Sâu trong tâm thể có đôi giọt gần
(Dư tập, Thủy mộ quan)

Những câu thơ như vậy thật hiếm hoi cho một đời bận rộn. Không bận rộn sao được, khi quanh mình những bạn bèn trang lứa lần lượt ra đi. Một số người vượt suối, vô rừng. Đi theo tiếng gọi của hận thù, máu lửa, trong trái tim đang bốc cháy bởi chủ nghĩa anh hùng. Để lại cho thành phố khúc hát “Người đã đi, đi trên non cao…” Một số khác ra đi, để lại tiếng khóc nghẹn ngào, điên loạn: “Ngày mai đi nhận xác chồng. Say đi để thấy mình không là mình.” Tình yêu, thù hận, bỗng trở thành mâu thuẫn biện chứng.

Mấy chục năm sau, một thế hệ đang lớn, như nắng trưa xích đạo che lu ánh đuốc quá khứ lập lòe của mình; thỉnh thoảng tôi đi tìm lại một vài câu thơ đâu đó, mà cũng không dễ gì tìm được, để cho hoài niệm quay lại một thời, trong đó mình đã sống, đã suy nghĩ, ưu phiền, và cả đến những dại dột ngông cuồng của tuổi trẻ. Trong tình trạng mà người cũ lánh xa, vì hiểm nguy rình rập mơ hồ, thì chuyện biển rộng sông dài chỉ có trong tranh, và trong trí nhớ. Lại vẫn điệp khúc hoài niệm bâng quơ.

Tôi không đoán được bạn trẻ yêu thơ ngày nay, nếu tình cờ đọc được bốn câu thơ dưới đây sẽ gợi lên ấn tượng gì.

Nhưng người đã sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, mà tình yêu và thù hận là những xung đột, khắc khoải trong lòng, những câu thơ ấy gợi nhớ một thời, hay đúng hơn là một ấn tượng, có thể thoáng qua chốc lát:

Chiều về trên một nhánh sông
Bên tôi con nước đỏ lòng quanh co
Nước loang dưới đáy trời dò
Buồn tôi thánh thót trên lò nhân sinh
(Một Nhánh Sông, Dư Tập, Thủy Mộ Quan)

Đó là một chút hơi thở tàn sinh, như bóng nắng là đà trên mặt nước, không có những trầm mặc thăm thẳm trong lòng đại dương. Một nhúm cỏ xanh nhởn nhơ trên cánh đồng khô cháy. Nhưng ai có thể phê bình nhúm cỏ vô tình? Ấn tượng của một người đọc thơ từ trong hủy diệt bạo tàn của chiến tranh là như thế.

Rồi đất nước hòa bình, dân tộc đang trở mình từ trong khói lửa, để cho hận thù hóa thân thành tình yêu. Và cũng là lúc bắt đầu một thế hệ cầm bút bị khước từ. Vì đã không thể nhận thức tình yêu theo định nghĩa của biện chứng. Trong đó, tình yêu chỉ có thể trưởng thành bằng hận thù và hủy diệt. “Máu của người đem lại tình thương.”

Ngồi trên đỉnh đồi Trại thủy, giữa thành phố Nha trang, nhìn xuống bên dưới, từ trong làng kéo ra một đoàn thiếu nhi Tiểu học, hô vang khẩu hiệu chào mừng cách mạng, đả đảo văn hóa giáo dục phản động, đồi trụy. Tôi biết mình đang bị chối bỏ. Và bị chối bỏ thật. Từ chỗ là thành phần ăn bám, rồi trở thành phần tử nguy hiểm, và được liệt xuống hàng cặn bã xã hội, tạm tha tội chết để được ân huệ khoan hồng sống hết kiếp sống thừa. Lại một lần nữa, những người cũ của tôi theo nhau lần lượt ra đi. Thời chiến tranh, một lớp bạn lên rừng. Thời hòa bình, một lớp bạn xuống biển. Dân tộc chợt quay trở lại với huyền thoại mở nước. Những người con theo Mẹ, đã có lúc khinh ghét anh em mình, bỏ lên rừng. Một thời gian sau, những người con theo Mẹ lên rừng nay quay trở về đô thị. Lại những người anh em khác sợ hãi, vội bỏ trốn theo, tìm về biển:

Vua gặp Âu Cơ lúc thủy du
Cùng nàng rung động nước thiên thu
Duyên tan nàng bắt con về núi
Những đứa theo cha khổ đến giờ
(Thủy Mộ Quan)

Ba chục năm, một nửa theo Cha, một nữa theo Mẹ. Nhưng huyền thoại của nhà thơ này vẫn còn quên một số anh em trở thành côi cút. Cha thì ở đâu không thấy, mà tự thân thì bị ruồng rẫy bởi chính anh em mình ngay trên đất Mẹ. Không Cha, cũng không Mẹ, ta đi tìm dấu tích Trường sơn, “Quê người trên đỉnh Trường sơn. Cho ta gởi một nỗi hờn thiên thu.” (Thơ Tuệ Sỹ).


Tôi không nói đến hận thù. Nhưng một nỗi oan khiên nào đó, khiến cho lời nói của mình như trong cơn mê sảng. Bạn cũ ở quanh đây thôi, vẫn gần như những ngày nào, một thời buồn vui. Có lẽ bạn cũ ngại ngùng, ngại nghe những điều được giả thiết là tôi sẽ nói. Thật sự, tôi chẳng được phép nói gì cả. Vẫn được chỉ định phải đứng bên lề xã hội đang hội nhập văn minh. Còn những bạn khác, hãy gọi là cố nhân, bấy giờ mỗi kẻ một phương trời. Tôi chẳng biết họ đang làm gì, đang nghĩ gì. Mỗi người một phong cách, trong một thế giới mở rộng, đa văn hóa. Tôi nghe nói như vậy.

Dù ở phương này hay phương kia, dù có hay không có hai trận tuyến văn chương cùng chung loại hình ngôn ngữ của Mẹ, vẫn còn hàng vạn nắm xương dưới lòng biển:

Lưu vực điêu tàn ở Biển Đông
Xương bầy như thú cháy rừng hoang
Nhưng rừng không cháy nào đâu thú
Người chết thân chìm Thủy Mộ Quan.
(Viên Linh, Thủy mộ quan)

Hận thù có thể xóa được dễ dàng thôi, nhưng u uẩn của những hồn oan đáy biển vẫn ám ảnh tâm tư. Người sỗng vẫn mang mãi ân tình của người đã chết, dù trên rừng hay dưới biển, vì oan nghiệt riêng tư hay vì tình chung dân tộc. Xưa Nguyễn Du đã làm “Văn tế thập loại chúng sinh”; không chỉ là món nợ văn chương cho người đã chết, mà đó còn là tình tự thiết tha từ cõi chết vọng về. Tôi đọc bài “Gọi hồn” trong Thủy mộ quan cũng với tâm trạng tương tợ:

Trên Huyết Hải thuyền trồi về một chiếc
Chiều bầm đen trời rực rỡ đau thương
Thân chìm xuống băng tuyền giờ tận biệt
Sóng bạc đầu hối hả phủ trùng dương.

(…)

Trong rêu xanh ngân ngật bóng sơn hà
Lướt hải phận về dưới trời cố quốc.

(…)

Bài thơ không mang tiết nhịp gây cảm xúc bàng hoàng tức khắc, nhưng những ấn tượng rải rác trong cả tập Thủy mộ quan làm cho bài thơ phảng phất nỗi kinh sợ, rùng mình:

Trinh nữ trầm oan nổi giữa dòng
Thân băng ngàn hải lý về sông
Xung quanh không một người than khóc
Chỉ cá trùng dương theo hộ tang.

Dù sao thì đất nước cũng đang hồi sinh. Những người ra đi, lần lượt kéo nhau về. Ấy thế, hờn giận giữa anh em vẫn còn là vết thương nhức nhối. Văn chương bây giờ vẫn là một lựa chọn, hoặc một nhân cách. Thi ngôn chí. Thiên cổ văn chương thiên địa tâm. Trong tận đáy sâu tâm khảm, mỗi nhà thơ vẫn chung một tình tự nghìn đời, dù biểu hiện có hận thù cay nghiệt. Tôi mong được như lời Viên Linh nói:

Sinh ở đâu mà giạt bốn phương
Trăm con cười nói tiếng trăm giòng
Ngày mai nếu trở về quê cũ
Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.

Tuệ Sỹ

DOÃN QUỐC SỸ * Vùng Trời Thi Ca Lý Thụy Ý


Tôi đi vào vùng trời thi ca của Lý Thụy Ý, vùng trời chấp nhận khổ đau nhưng vẫn phủ hồng cảnh đường trường gai góc:


“
Dường đi không đầy hoa/Chỉ toàn gai chờ đợi/Ta hất đầu bước tới/Gai rạp dưới bàn chân.
…Nhưng thua thắng chi nhau/Ta ủ gai trong áo/Qua một đêm giông bão / Gai bỗng nở thành hoa “

( Gai ).

Sở dĩ có được thái độ bao dung đó vì Lý đã nhìn đời bằng con mắt hiền triết chấp nhận cả hai chiều sự vật:

“ Trong tình yêu chất đắng cũng rất cần
Ta chợt hiểu thiên đường là địa ngục “
( Những Bậc Thang Bước Hụt )

Một em bé mất cha, mất mẹ, sống một mình trên vùng đất xưa là tuyến lửa. Nhưng kìa, em vẫn luồn tay qua hàng rào kẽm gai…thì ra :

“ Thôi em hiểu rồi
Tay bé cầm cành hoa nhỏ
Ô hay…tại sao hoa vẫn có thể nở được
Trên vùng đất cằn khô máu đỏ

Thì ra…
Trong địa ngục có thiên đàng”
( Bé Và Cành Hoa )

“ Bây giờ chấp nhận niềm đau
Xa nhau…để mãi còn nhau trong đời
Em về xin góp nụ cười
Vòng tay ôm trọn bóng người tình xa “

( Cho Người Tình Xa )

Dưới vùng ánh sáng nhân bản bao dung đó Lý đi sâu vào tinh lý chân không của đạo Phật:

" Tồi ba mươi lễ chùa
Hoa trắng hơn áo trắng
Thắp nén hương giao thừa
Ý kim Cương vô tận “

Có những lúc Lý đẩy tia nhìn đến tận cùng của tuyệt vọng :

" Ta nhớ trăng cổ độ
Muốn về thăm Cô Tô
Tìm không ra Phạm Lãi
Làm sao đến Ngũ Hồ “

Nhưng khách quan chỉ là chất xúc tác cho chủ quan rỡ ràng tỏ lộ :

" Ta quên trăng cổ độ
Hết thèm nắng thủy tinh
Trong nhiệm mầu có thật
Ta tìm ra chính mình “

( Những Cơn Say Không Rượu )

Quả thật nếu không có mình, vạn hữu có đó cũng bằng thừa mà thôi.
Tôi không quên nhà thơ còn là một tiểu thuyết gia nữa, bởi vậy để kết thúc xin được nhắc đến nghệ thuật kể chuyện của Lý Thụy Ý trong một bài thơ điển hình
“ Bông Hồng Mùa Xuân “ :

“ Bán tôi một bông hồng đi,cô bé
Đóa nào tươi còn búp nụ mịn màng”

Cô bé đã ngước nhìn ông khác để rồi sau đó lựa cho ông ta một bông hồng” vừa ý nghĩa vừa sang “ tượng trưng cho tình nồng thắm vô bờ.
Khi ông khách trả tiền “ cô bé “ đã không nhận, đúng với ý hướng tâm tình lãng mạn của tuổi trẻ :
“ Một đóa hoa không bao nhiêu ông ạ
Rất mong ông làm người đẹp vừa lòng”

Nhưng ông khách đã cải chính :
“ Cô bé lầm tôi không tặng người yêu
Thằng bạn thân tuần qua vừa ngã gục
Một bông hồng cho nó bớt quạnh hiu”

“ Cô bé “ vẫn cương quyết từ chối không nhận tiền :
“ Tôi cúi mặt : xin gửi người xấu số
Chuyện của ông làm tôi bỗng nghẹn ngào”

Chàng trai quân nhân đã nhận bông hồng và “ cô bé “ trông theo bóng chàng trai khuất dần :
“ Khách quay đi áo hoa rừng đã bạc
Dáng cao gầy khuất hẳn – bóng chiều nghiêng
Tôi bất chợt đưa tay làm dấu thánh
Mẹ giữ gìn cho người ấy bình yên “

Rồi lòng xuân vương vương, má cô bé thêm hồng:
“ Tôi bâng khuâng nhớ đến người khác lạ
Mình nhớ Người, Người có nhớ mình không ? “

Cho tới chiều hăm chín nhìn phố phường tấp nập từng cặp đẹp bên nhau, mắt “ cô bé “ bỗng bừng sáng, người khách lạ hôm nào đã xuất hiện bất ngờ :

“ Tim đập mạnh sau áo hàng lụa mỏng
Anh đến gần lời nói cũng reo vui
-Sao cô bé, hàng hôm nay đắt chứ
Cô nhớ tôi hay cô đã quên rồi ?!”

Chàng trai kể là vừa hành quân về đã vội qua đây ngay, mua thêm bông hồng để làm người đẹp vừa lòng.
Làm người đẹp-của chàng-vừa lòng ! Làm sao mà lòng cô không thắt lại vì khổ đau :

“ Tôi bỗng nghe như tim mình thắt lại
Gượng tìm hoa rồi trao tận tay người “

Cầm bông hồng ánh mắt chàng trai bỗng dịu đi và-thật bất ngờ-trang trọng tặng lại” cô bé “ ngày nào :

“ Một bông hồng như hôm nào cô nói
…Là tượng trưng tình nồng thắm vô bờ”

Và cô bé đã :
“ Tôi run tay nhận hoa hồng Người tặng
Sự thật rồi…mà cứ ngỡ đang mơ…”

Câu chuyện tình dễ thương kết thúc bằng những vần thơ dễ thương như vậy.
Và cũng như vậy tôi đã đi vào vùng trời thơ của Lý Thụy Ý.


Doãn Quốc Sỹ


Saturday, November 19, 2011

BÙI GIÁNG * Ði Vào Cõi Thơ Tuệ Sỹ

Tuệ Sỹ

Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u.... Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông :

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết :

Wednesday, November 9, 2011

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN ** Viết Về Hoàng Hải Thủy


Hoàng Hải Thủy là một trong những nhà văn đã nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông nổi tiếng trước nhất như một người viết phóng sự, sau đó, như một dịch giả và một người viết tạp văn.
Từ tạp văn ở đây hiểu theo nghĩa, gặp gì viết nấy, trộn lộn cả phóng sự, văn chương, trích dẫn thi ca, âm nhạc, những ngôn ngữ do ông sáng tạo, bịa đặt ra.
Cái cách viết của ông có thể có nhiều người không thích. Nhưng khi người ta nói không thích cách đùa cợt trớt nhả của ông, có nghĩa là người ta đã đọc ông rồi.
Có phải như vậy chăng?

PHAN BÁ THỤY DƯƠNG ** Hoàng Trúc Ly [1933-1983] : Hành Trình & Thi Ca Tịch Liêu Của Một Thiên Tài Vắn Số.



Nhiều người chỉ biết Hoàng Trúc Ly qua những bài thơ đăng trên các báo, các tạp chí từ 1955 và về sau là thi tập duy nhất của anh: “Trong Cơn Yêu Dấu”. Tác phẩm thi ca này do nhà xuất bản Hướng Dương trên đương Lê Lợi ấn hành năm 1963, bìa của họa sĩ Trịnh Cung. Cuốn sách này còn khiêm nhường hơn nhiều so với số trang trong tập thơ “Bi Ca” của Hoài Thương - người phụ trách trang thơ và biên tập viên thường trực cho bán nguyệt san Thời Nay, phát hành vào cuối năm 1962. TCYD chỉ vỏn vẹn có 38 trang với 22 bài thơ in trên khổ giấy lớn 21x25.

Sunday, November 6, 2011

● PHAN BÁ THỤY DƯƠNG ** Nói Chuyện Vui Với Chưởng Môn Người Làng Hà Thượng.

[1922-2011]

Với những người hoạt động lâu năm trong giới truyền thông, báo chi...miền Nam thì hầu như ai cũng ít nhiều nghe danh, biết đến cụ Hà Thượng Nhân . Tiên sinh là người nổi tiếng về tài làm thi phú nhanh - có thể nói là xuất khẩu thành thơ - cũng như về đức độ, về tính tình ôn nhu, phóng khoáng đối với mọi người. Ông còn là một vị giám khảo thường trực cho giải Văn chương Toàn quốc - do yêu cầu của Phủ Quốc Vụ Khanh VNCH. Tại quốc ngoại tiên sinh cũng – ít nhất - là giám khảo chi các giải thơ văn cho Phong trào Hiến Chương 2000 ở Canada và cho Cơ sở Văn Thư Lạc Việt tại San José, California.